Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    231.png 221.png 20.png 02.png 18.png 19.png 17.png 01.png 04.png 05.png 07.png 08.png 131.png 14.png 15.png 16.png 06.png Muathudalat14mimosa_1376147108.jpg Tai_xuong5.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    THCS BÍCH HÒA

    Nhiệt liệt chào mừng quý vị và các bạn đến với Website của trường THCS Bích Hòa!
    Gốc > Bài viết > Tin tức >

    Chương trình SGK mới( các đ/c xem, nghiên cứu và ghóp ý cho bản dự thảo)

               
       
     
         
     
         


              Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (gọi tắt là Chương trình tổng thể) đã được chuẩn bị và triển khai từ rất sớm, ngay sau Đại hội Đảng lần thứ 11(năm 2011), và nhất là từ khi có Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

    Để xây dựng Chương trình tổng thể (dự thảo), Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành hàng loạt công việc như:

       Tiến hành tổng kết, đánh giá chương trình (CT) và sách giáo khoa (SGK) hiện hành để xác định rõ những ưu điểm cần kế thừa, phát huy và các hạn chế, bất cập cần khắc phục.

       Nghiên cứu bối cảnh kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa trong nước và quốc tế nhằm nhận thức rõ những đặc điểm và yêu cầu cần chú ý trong việc xây dựng CT, biên soạn SGK mới.

       Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế nhằm rút ra được xu thế chung về xây dựng CT, SGK, nhất là kinh nghiệm của các nước có nền giáo dục phát triển và có  quan hệ, ảnh hưởng nhiều tới Việt Nam.

       Tham khảo và học tập CT và SGK của nhiều nước tiêu biểu cho các khu vực khác nhau (Đông Nam Á, châu Á, châu Âu và châu Mỹ, châu Úc)

       Cử các đoàn cán bộ sang một số nước học tập và thông qua các tổ chức quốc tế mời các chuyên gia giáo dục các nước (Anh, Mỹ, Hàn Quốc, Bỉ, Đức, Hồng kông...) sang Việt Nam tập huấn về xây dựng CT, biên soạn SGK.

     Tổ chức nhiều hội thảo, tập huấn trong nước và quốc tế về kinh nghiệm xây dựng CT giáo dục phổ thông, định hướng vận dụng vào Việt Nam với sự tham gia đông đảo của đội ngũ các nhà khoa học trong và ngoài nước.

       Triển khai thực nghiệm một số định hướng đổi mới với điều kiện thực tế giáo dục Việt Nam, trong đó có những vùng sâu, vùng xa, vùng rất khó khăn.

    Chương trình tổng thể đã được soạn thảo, trao đổi và chỉnh sửa rất nhiều lần trong vòng 3 năm qua, với sự tham gia trực tiếp của nhiều nhà khoa học, các cán bộ nghiên cứu giáo dục, giảng viên đại học, giáo viên phổ thông đến từ nhiều cơ sở, tổ chức trong nước và quốc tế.

    Ban soạn thảo đã tổ chức nhiều hội thảo về Chương trình tổng thể, lắng nghe và tiếp thu ý kiến từ nhiều đối tượng khác nhau: các nhà khoa học thuộc Liên hiệp các hội Khoa học-Kỹ thuật Việt Nam, các giáo sư, giảng viên các trường Đại học và Cao đẳng sư phạm, Học viện Quản lý giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam; cán bộ quản lý giáo dục thuộc các cơ sở đào tạo giáo viên, hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông, giám đốc các Trung tâm giáo dục thường xuyên và một số giáo viên tiêu biểu trong cả nước...

       Tuân thủ quy trình xây dựng, Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố Chương trình tổng thể đã dự thảo nhằm xin ý kiến rộng rãi để tiếp tục hoàn chỉnh.

       Ban biên soạn xin trân trọng cảm ơn và xin tiếp nhận tất cả các ý kiến đóng góp về Chương trình tổng thể này.

     

    MỤC LỤC

    TT

    Nội dung

    Trang

    I

    GIẢI THÍCH MỘT SỐ THUẬT NGỮ DÙNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

    4

    II

    QUAN ĐIỂM  XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

    7

    III

    MỤC TIÊU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

    8

    IV

    YÊU CẦU  CẦN ĐẠT VỀ PHẨM CHẤT CHỦ YẾU VÀ NĂNG LỰC CHUNG CỦA HỌC SINH

    9

    V

    LĨNH VỰC GIÁO DỤC

    10

    VI

    KẾ HOẠCH GIÁO DỤC

    11

    VII

    ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC

    14

    VIII

    ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

    28

    IX

    PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

    30

    Phụ lục 1

    BIỂU HIỆN PHẨM CHẤT CHỦ YẾU CỦA HỌC SINH PHỔ THÔNG

    31

    Phụ lục 2

    BIỂU HIỆN NĂNG LỰC CHUNG CỦA HỌC SINH PHỔ THÔNG

    34

    Phụ lục 3

    VAI TRÒ CỦA MÔN HỌC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHUNG CỦA HỌC SINH

    43

    Phụ lục 4

    HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO

    44

    Phụ lục 5

    LIÊN QUAN GIỮA CÁC MÔN HỌC (TC2) VỚI MỘT SỐ NHÓM NGÀNH

    46

     

     

     

     

    I. GIẢI THÍCH MỘT SỐ THUẬT NGỮ DÙNG TRONG CHƯƠNG TRÌNHGIÁO DỤC PHỔ THÔNG

    Trong chương trình giáo dục phổ thông, các thuật ngữ sau đây được hiểu như sau:

    • · Chuyên đề học tập tự chọn: Mỗi chuyên đề là một nội dung học tập dành cho học sinh trung học phổ thông tự chọn, nhằm đáp ứng nhu cầu khác nhau của học sinh, trang bị cho học sinh một số hiểu biết, kỹ năng, năng lực nhất định, phù hợp với đặc điểm cá nhân, định hướng nghề nghiệp để chuẩn bị tốt cho quá trình học tập giai đoạn giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp hoặc đi vào cuộc sống. Có chuyên đề mở rộng hay nâng cao kiến thức của các môn học, có chuyên đề mang tính nhập môn theo nhóm ngành nghề, có chuyên đề mang tính chất hoạt động hướng nghiệp.
    • · Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông; quy định yêu cầu cần đạt đối với học sinh; phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông; phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục; cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học, chuyên đề học tập và hoạt động trải nghiệm sáng tạo (sau đây gọi chung là môn học) ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông.

    Chương trình giáo dục phổ thông (sau đây gọi tắt là chương trình) bao gồm chương trình tổng thể và các chương trình môn học.

    • ·Chương trình tổng thể quy định những vấn đề chung của giáo dục phổ thông, bao gồm: Quan điểm xây dựng chương trình; mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông và mục tiêu chương trình giáo dục của từng cấp học; yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực chung của học sinh cuối mỗi cấp học; các lĩnh vực giáo dục; hệ thống môn học; thời lượng của từng môn học; định hướng nội dung giáo dục bắt buộc ở từng lĩnh vực giáo dục và phân chia vào các môn học ở từng cấp học đối với tất cả học sinh trên phạm vi toàn quốc; định hướng về phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục và cách thức đánh giá kết quả giáo dục của từng môn học; điều kiện tối thiểu của nhà trường để thực hiện được chương trình.
    • ·Chương trình môn họcxác định vị trí, vai trò môn học trong thực hiện mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông; mục tiêu và yêu cầu cần đạt của môn học ở mỗi lớp hoặc cấp học; nội dung giáo dục cốt lõi (bắt buộc) ở từng cấp học đối với tất cả học sinh trên phạm vi toàn quốc; kế hoạch dạy học môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học; định hướng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, cách thức đánh giá kết quả học tập của học sinh trong môn học.
    • · Dạy học phân hoá là định hướng dạy học phù hợp các đối tượng học sinh khác nhau, nhằm phát triển tối đa tiềm năng vốn có của mỗi học sinh dựa vào đặc điểm tâm - sinh lý, khả năng, nhu cầu và hứng thú khác nhau của học sinh.

    (Tính phân hoá thể hiện ở sự phân biệt dựa theo các đối tượng khác nhau, áp dụng cách thức tổ chức, vận dụng nội dung, phương pháp và hình thức,... hoạt động khác nhau, sao cho phù hợp nhất với từng đối tượng, nhằm đạt hiệu quả cao).

    • · Dạy học tích hợp là định hướng dạy học giúp học sinh phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng,... thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, được thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề.

    (Tính tích hợp thể hiện qua sự huy động, kết hợp, liên hệ các yếu tố có liên quan với nhau của nhiều lĩnh vực để giải quyết có hiệu quả một vấn đề và thường đạt được nhiều mục tiêu khác nhau).

    • · Đánh giá chất lượng giáo dục là quá trình thu thập, phân tích thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng, làm rõ sự tương quan giữa kết quả giáo dục đạt được trên thực tế và những yếu tố có ảnh hưởng đến kết quả giáo dục, đối chiếu với mục tiêu đặt ra nhằm điều chỉnh hoạt động giáo dục.
    • · Giáo dục cơ bản (gồm cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở) bảo đảm trang bị cho học sinh tri thức phổ thông nền tảng, hình thành, phát triển năng lực tự học; chuẩn bị tâm thế cho việc thích ứng với những thay đổi nhanh chóng và nhiều mặt của xã hội tương lai; đáp ứng yêu cầu phân luồng sau trung học cơ sở (học sinh học lên trung học phổ thông, học nghề hoặc tham gia cuộc sống lao động)
    • · Giáo dục định hướng nghề nghiệp (cấp trung học phổ thông) nhằm phát triển năng lực theo sở trường, nguyện vọng của từng học sinh, bảo đảm học sinh tiếp cận nghề nghiệp, chuẩn bị cho giai đoạn học sau có chất lượng hoặc tham gia cuộc sống lao động.
    • ·Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục trong đó từng học sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc trong xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, các kỹ năng và tích luỹ kinh nghiệm riêng của cá nhân. Trải nghiệm sáng tạo là hoạt động được coi trọng trong từng môn học; đồng thời trong kế hoạch giáo dục cũng bố trí các hoạt động trải nghiệm sáng tạo riêng, mỗi hoạt động này mang tính tổng hợp của nhiều lĩnh vực giáo dục, kiến thức, kỹ năng khác nhau.
    • · Lĩnh vực giáo dục dùng để chỉ phạm vi giáo dục rộng, được thực hiện chủ yếu thông qua một hoặc nhiều môn học hay hoạt động giáo dục có nội dung liên quan với nhau, bổ sung cho nhau. Mỗi lĩnh vực giáo dục có ưu thế trong việc hình thành và phát triển cho học sinh một số phẩm chất, năng lực nhất định và yêu cầu những nội dung giáo dục cốt lõi, là căn cứ để xác định nội dung các môn học liên quan.
    • ·Môn học bắt buộc là môn học mà mọi học sinh đều phải học. Nội dung các môn học bắt buộc tạo nên cốt lõi học vấn phổ thông, không thể thiếu đối với mỗi học sinh.
    • ·Môn học tự chọn là môn học mà học sinh có thể học hoặc không học; nội dung môn học tự chọn đáp ứng nhu cầu, sở thích và khả năng riêng của các đối tượng học tập khác nhau. Các môn học hoặc nội dung học tự chọn được chia thành ba loại:

    - Tự chọn tuỳ ý (TC1): Học sinh có thể chọn hoặc không chọn.

    - Tự chọn trong nhóm môn học (TC2): Học sinh buộc phải chọn một hoặc một số môn học trong nhóm môn học theo quy định trong chương trình.

    - Tự chọn trong môn học (TC3): Học sinh buộc phải chọn một số mô đun, chuyên đề trong một môn học.

    • · Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,... Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống.
    • · Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc. Các hoạt động giáo dục (bao gồm các môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo), với khả năng khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các năng lực chung của học sinh.
    • · Năng lực đặc thù môn học (của môn học nào) là năng lực mà môn học (đó) có ưu thế hình thành và phát triển (do đặc điểm của môn học đó). Một năng lực có thể là năng lực đặc thù của nhiều môn học khác nhau.
    • · Phát triển chương trình giáo dục là quá trình điều chỉnh, bổ sung, cập nhật, làm mới toàn bộ hoặc một số thành tố của chương trình giáo dục, bảo đảm khả năng phát triển và ổn định tương đối của chương trình giáo dục đã có, nhằm làm cho việc triển khai chương trình theo mục tiêu giáo dục đặt ra đạt được hiệu quả tốt nhất, phù hợp với đặc điểm và nhu cầu phát triển của xã hội và phát triển của cá nhân học sinh. Phát triển chương trình bao gồm xây dựng chương trình, đánh giá, chỉnh sửa và hoàn thiện chương trình.
    • · Phẩm chất là những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử trong đạo đức, lối sống, ý thức pháp luật, niềm tin, tình cảm,... của con người. Phẩm chất cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người.
    • · Phiên bản chương trình là văn bản chương trình được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố sau mỗi lần chỉnh sửa.
    • · Sách giáo khoa là tài liệu chính để dạy và học trong nhà trường, đáp ứng được những tiêu chí do Nhà nước quy định, có tác dụng hướng dẫn hoạt động dạy và hoạt động học, chủ yếu về nội dung và phương pháp dạy học.
    • · Sách giáo khoa điện tử là loại hình sách giáo khoa được số hoá để học sinh, giáo viên và mọi người có thể sử dụng thông qua công cụ công nghệ thông tin và truyền thông. Sách giáo khoa điện tử được xuất bản dưới hai dạng chính: Website truyền tải trên mạng internet và đĩa CD. Ngoài những tiêu chí cần đạt như sách giáo khoa giấy, sách giáo khoa điện tử gồm các bài học bằng kênh chữ kết hợp hình ảnh, âm thanh, mô phỏng và video thí nghiệm; có sự hỗ trợ hoạt động tương tác giữa người học với nội dung học tập, hỗ trợ tự học, đảm bảo liên kết với môi trường học tập...
    • · Tài liệu hướng dẫn dạy học là văn bản được biên soạn theo từng chương trình môn học, bao gồm: Giới thiệu những vấn đề chung về chương trình môn học, hướng dẫn dạy học theo chương trình môn học (gợi ý phương pháp và hình thức tổ chức dạy học; cách thức sử dụng phương tiện dạy học; gợi ý về lựa chọn và xây dựng hệ thống bài tập, hệ thống đề kiểm tra, phương pháp đánh giá,...).
    • · Yêu cầu cần đạt là kết quả mà học sinh cần đạt được về phẩm chất và năng lực, kiến thức, kỹ năng, thái độ,...sau mỗi cấp học, lớp học ở từng môn học; ở mỗi cấp học, lớp học sau đều có những yêu cầu riêng và bao gồm cả những yêu cầu đối với các cấp học, lớp học trước đó. Trong chương trình tổng thể yêu cầu cần đạt được diễn đạt kèm theo các biểu hiện cụ thể về phẩm chất chủ yếu và năng lực chung của học sinh.

    II. QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG([1])

    1.Trên cơ sở giáo dục toàn diện và hài hoà đức, trí, thể, mỹ, mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông xác định những yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của học sinh ở từng cấp học; mục tiêu chương trình môn học xác định những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ, hướng đến hình thành những phẩm chất, năng lực đặc thù môn học và các phẩm chất, năng lực khác ở từng lớp, từng cấp học, coi đó là cam kết bảo đảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục, là căn cứ để chỉ đạo, giám sát và đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông.

    2.Giáo dục phổ thông 12 năm, gồm hai giai đoạn: Giai đoạn giáo dục cơ bản (gồm cấp tiểu học 5 năm và cấp trung học cơ sở 4 năm) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (cấp trung học phổ thông 3 năm).

    Nội dung giáo dục phổ thông bảo đảm tinh giản, hiện đại, thiết thực, thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, phù hợp với đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi học sinh; giáo dục nhân cách, đạo đức, văn hoá pháp luật và ý thức công dân; tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hoá, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hoá nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; dạy ngoại ngữ và tin học theo hướng chuẩn hoá, thiết thực, bảo đảm năng lực sử dụng của học sinh; giáo dục nghệ thuật và giáo dục thể chất coi trọng việc định hướng thẩm mỹ và bồi dưỡng hứng thú rèn luyện sức khoẻ, hoạt động nghệ thuật.

    3. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo định hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; tập trung dạy cách học và rèn luyện năng lực tự học, tạo cơ sở để học tập suốt đời, tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với mục tiêu, nội dung giáo dục, đối tượng học sinh và điều kiện cụ thể của mỗi cơ sở giáo dục phổ thông.

    Đa dạng hoá hình thức tổ chức học tập, coi trọng cả dạy học trên lớp và các hoạt động xã hội, trải nghiệm sáng tạo, tập dượt nghiên cứu khoa học. Phối hợp chặt chẽ giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
    Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong các hoạt động giáo dục.

    4.Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá chất lượng giáo dục, bảo đảm trung thực, khách quan, góp phần hướng dẫn, điều chỉnh cách học và cách dạy. Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội; thực hiện đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông ở cấp độ quốc gia, địa phương và tham gia các kỳ đánh giá quốc tế để làm căn cứ đề xuất chính sách, giải pháp cải thiện chất lượng giáo dục phổ thông.

    Đổi mới phương thức thi và công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông theo hướng giảm áp lực và tốn kém cho xã hội mà vẫn bảo đảm độ tin cậy, trung thực, đánh giá đúng năng lực học sinh, cung cấp dữ liệu làm cơ sở cho việc tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.

    III. MỤC TIÊU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

    Chương trình giáo dục phổ thông nhằm giúp học sinh phát triển khả năng vốn có của bản thân, hình thành tính cách và thói quen; phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần; trở thành người học tích cực, tự tin, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời; có những phẩm chất tốt đẹp và các năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động cần cù, có tri thức và sáng tạo.

    Chương trình giáo dục cấp tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự hình thành và phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực được nêu trong mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông; định hướng chính vào giá trị gia đình, dòng tộc, quê hương, những thói quen cần thiết trong học tập và sinh hoạt; có được những kiến thức và kỹ năng cơ bản nhất để tiếp tục học trung học cơ sở.

    Chương trình giáo dục cấp trung học cơ sở nhằm giúp học sinh duy trì và nâng cao các yêu cầu về phẩm chất, năng lực đã hình thành ở cấp tiểu học; tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực chung của xã hội; hình thành năng lực tự học, hoàn chỉnh tri thức phổ thông nền tảng để tiếp tục học lên trung học phổ thông, học nghề hoặc bước vào cuộc sống lao động.

    Chương trình giáo dục cấp trung học phổ thông nhằm giúp học sinh hình thành phẩm chất và năng lực của người lao động, nhân cách công dân, ý thức quyền và nghĩa vụ đối với Tổ quốc trên cơ sở duy trì, nâng cao và định hình các phẩm chất, năng lực đã hình thành ở cấp trung học cơ sở; có khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, có những hiểu biết và khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc bước vào cuộc sống lao động.

    IV. YÊU CẦU CẦN ĐẠT VỀ PHẨM CHẤT CHỦ YẾU, NĂNG LỰC CHUNG CỦA HỌC SINH

    1. Chương trình giáo dục phổ thông nhằm hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu sau:

    - Sống yêu thương;

    - Sống tự chủ;

    - Sống trách nhiệm.

    2. Chương trình giáo dục phổ thông nhằm hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực chung chủ yếu sau:

    - Năng lực tự học;

    - Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;

    - Năng lực thẩm mỹ;

    - Năng lực thể chất;

    - Năng lực giao tiếp;

    - Năng lực hợp tác;

    - Năng lực tính toán;

    - Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT).

    Việc đánh giá mức độ đạt được các yêu cầu về phẩm chất chủ yếu và năng lực chung của học sinh từng cấp học được thực hiện thông qua nhận xét các biểu hiện chủ yếu của các thành tố trong từng phẩm chất và năng lực (nêu tại các phụ lục 1, 2 kèm theo chương trình tổng thể). Từng cấp học, lớp học đều có những yêu cầu riêng, cao hơn và bao gồm cả những yêu cầu đối với các cấp học, lớp học trước đó về từng thành tố của các phẩm chất, năng lực.

    3. Mỗi môn học đều đóng góp vào việc hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung (trình bày tại phụ lục 3 kèm theo chương trình tổng thể). Các năng lực đặc thù môn học thể hiện vai trò ưu thế của môn học được nêu ở các chương trình môn học.

    V. LĨNH VỰC GIÁO DỤC

    Chương trình giáo dục phổ thông có 8 lĩnh vực giáo dục:

    - Ngôn ngữ và văn học;

    - Toán học;

    - Đạo đức - Công dân;

    - Thể chất;

    - Nghệ thuật;

    - Khoa học Xã hội;

    - Khoa học Tự nhiên;

    - Công nghệ - Tin học.

     

     

    Giai đoạn GD              

    CƠ BẢN

    ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP

    Cấp học

    Tiểu học

    Trung học cơ sở

    Trung học phổ thông

    Lớp

    Lớp 1

    Lớp 2

    Lớp 3

    Lớp 4

    Lớp 5

    Lớp 6

    Lớp 7

    Lớp 8

    Lớp 9

    Lớp 10

    Lớp 11

    Lớp 12

    Các môn học và số tiết trung bình trong 1 tuần của từng
    môn học

    Tiếng Việt (BB)

    Ngữ văn (BB)

    Ngữ Văn 1 (BB)

    12

    12

    8

    6

    6

    4

    4

    4

    4

    2

    2

    2

     

     

    Ngoại ngữ 1 (BB)

    Ngoại ngữ 1 (BB)

    Ngoại ngữ 1 (BB)

     

     

    4

    4

    4

    3

    3

    3

    3

    3

    3

    3

     

     

    Ngoại ngữ 2 (TC1)
    Tiếng dân tộc (TC1)

    Ngoại ngữ 2 (TC1)
    Tiếng dân tộc (TC1)

    Ngoại ngữ 2 (TC1)

    Toán (BB)

    Toán (BB)

    Toán 1 (BB)

    3

    3

    6

    6

    6

    4

    4

    4

    4

    2

    2

    2

    Giáo dục lối sống (BB)

    Giáo dục công dân (BB)

    Công dân với Tổ quốc (BB)

    2

    2

    2

    1

    1

    1

    1

    1

    1

    2

    2

    2

    Thể dục (BB) - Thể thao (TC3)

    Thể dục (BB) - Thể thao (TC3)

    4 môn TC2

    4 môn TC2

    3 môn TC2

    2

    2

    2

    2

    2

    2

    2

    2

    2

    14

    12

    9

    Âm nhạc (TC3) - Mỹ thuật (TC3)

    Âm nhạc (TC3) - Mỹ thuật (TC3)

    1. Học sinh tự chọn trong các môn (TC2): Lịch sử, Địa lý, Ngữ văn 2, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Tin học, Công nghệ, Toán 2, KHTN, KHXH, bảo đảm các điều kiện sau:

         - Nếu chọn môn KHTN thì không chọn các môn Vật lý, Hoá học, Sinh học; nếu chọn môn KHXH thì không chọn các môn: Lịch sử, Địa lý.

         - Các môn KHTN, KHXH học ở các lớp 10, 11.

         - 14 tiết TC2 (lớp 10) chia ra 5 tiết để chọn môn KHTN hoặc môn KHXH và 9 tiết cho 3 môn còn lại, mỗi môn 3 tiết.
     - 12 tiết TC2 (lớp 11) chia ra 3 tiết để chọn môn KHTN hoặc môn KHXH và 9 tiết cho 3 môn còn lại, mỗi môn 3 tiết.
     - 9 tiết TC2 (lớp 12) để chọn 3 môn, mỗi môn 3 tiết.

    2. Các môn: Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể thao được thiết kế thành các chuyên đề cùng với Hoạt động trải nghiệm sáng tạo để học sinh tự chọn (TC3).

    3. Học sinh có thể tham khảo phụ lục 5 để có thêm thông tin khi lựa chọn môn học và chuyên đề học tập tự chọn

    2

    2

    2

    2

    2

    1,5

    1,5

    1,5

    1,5

    Cuộc sống quanh ta (BB)

    Tìm hiểu XH (BB)

    Khoa học XH (BB)

    2

    2

    2

    2

    2

    3

    3

    3

    3

    Tìm hiểu TN (BB)

    Khoa học TN (BB)

    2

    2

    4

    4

    4

    4

    Kỹ thuật (TC3) – Tin học (TC3)

    Tin học (TC3)

    1

    1

    1

    2

    2

    1

    1

    1

    1

    Công nghệ (TC3)

    1,5

    1,5

    1,5

    1,5

    Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (TC3)

    Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (TC3)

    Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (TC3)

    4

    4

    3

    3

    3

    3

    3

    3

    3

    5

    4

    4

     

     

     

     

     

     

     

    Nghiên cứu khoa học kỹ thuật (TC1)

    Nghiên cứu khoa học kỹ thuật (TC1)

    Tự học có hướng dẫn

     

     

     

     

     

    Chuyên đề học tập (TC3)

    4

    4

    2

    2

    2

     

     

     

     

     

    3

    6

    Số tiết/tuần

    32

    32

    32

    32

    32

    28

    28

    28

    28

    28

    28

    28

     

     

    VI. KẾ HOẠCH GIÁO DỤC

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    1. Hệ thống các môn học, chuyên đề học tập và hoạt động trải nghiệm sáng tạo (sau đây gọi chung là môn học)

    Hệ thống các môn học được thiết kế theo định hướng bảo đảm cân đối nội dung các lĩnh vực giáo dục, phù hợp với từng cấp học, lớp học; thống nhất giữa các lớp học trước với các lớp học sau; tích hợp mạnh ở các lớp học dưới, phân hoá dần ở các lớp học trên; tương thích với các môn học của nhiều nước trên thế giới. Tên của từng môn học được gọi dựa theo các môn học trong chương trình hiện hành, có điều chỉnh để phản ánh tốt nhất nội dung, tính chất, ý nghĩa giáo dục của môn học trong từng cấp học, do đó tên một môn học có thể thay đổi ở từng cấp học. Chẳng hạn:

    - Môn học cốt lõi của lĩnh vực giáo dục đạo đức – công dân có các tên: Giáo dục lối sống (tiểu học), Giáo dục công dân (trung học cơ sở) và Công dân với Tổ quốc (trung học phổ thông).

    - Cốt lõi trong lĩnh vực giáo dục khoa học (khoa học tự nhiên và khoa học xã hội) chỉ có 1 môn học Cuộc sống quanh ta (các lớp 1,2,3); tách thành 2 môn học Tìm hiểu Xã hội và Tìm hiểu Tự nhiên (các lớp 4, 5); tương ứng với 2 môn học Khoa học Xã hội và Khoa học Tự nhiên (trung học cơ sở).

     Lên trung học phổ thông, để hài hoà giữa học phân hoá định hướng nghề nghiệp với học toàn diện, môn Khoa học Xã hội cùng với các môn Vật lý, Hoá học, Sinh học sẽ dành cho học sinh định hướng khoa học tự nhiên, môn Khoa học Tự nhiên cùng với các môn Lịch sử, Địa lý sẽ dành cho các học sinh định hướng khoa học xã hội; đồng thời học sinh còn được tự chọn các chuyên đề học tập phù hợp với nguyện vọng cá nhân.  

    Các môn học ở cả 3 cấp học được chia thành môn học bắt buộc (BB) và môn học tự chọn (TC). Các môn học tự chọn gồm 3 loại: Tự chọn tuỳ ý: học sinh có thể chọn hoặc không chọn (TC1); tự chọn trong nhóm môn học: học sinh buộc phải chọn một hoặc một số môn học trong nhóm môn học theo quy định trong chương trình (TC2); tự chọn trong môn học: học sinh buộc phải chọn một số nội dung trong một môn học (TC3). Tỷ lệ môn học tự chọn hoặc nội dung học tự chọn tăng dần từ lớp dưới lên lớp trên. Cụ thể:

    a) Giai đoạn giáo dục cơ bản (cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở):

    - Các môn học bắt buộc gồm: Tiếng Việt/Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Thể dục, Giáo dục lối sống/Giáo dục Công dân, Cuộc sống quanh ta, Tìm hiểu tự nhiên/Khoa học tự nhiên, Tìm hiểu xã hội/Khoa học xã hội.

    - Ngoài các môn học bắt buộc, học sinh được tự chọn:

    + Tự chọn tuỳ ý (TC1) gồm: Ngoại ngữ 2, Tiếng dân tộc, Nghiên cứu khoa học kỹ thuật (ở lớp 8, lớp 9).

    + Tự chọn trong môn học (TC3) gồm: Kỹ thuật/Công nghệ, Tin học, Thể thao, Âm nhạc, Mỹ thuật, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.

    + Tự học có hướng dẫn là thời gian học sinh tự học trên lớp (để thay thế tự học ở nhà) có sự kèm cặp, giúp đỡ của giáo viên. Hoạt động này chỉ có ở các lớp tiểu học học 2 buổi/ngày.

    b) Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (cấp trung học phổ thông):

    - Có 4 môn học bắt buộc: Ngữ văn 1, Toán 1, Công dân với Tổ quốc, Ngoại ngữ 1.

    - Ngoài các môn học bắt buộc, học sinh được tự chọn:

    + Tự chọn tuỳ ý (TC1) gồm: Nghiên cứu khoa học kỹ thuật, Ngoại ngữ 2.

    + Tự chọn trong nhóm môn học (TC2) gồm 4 môn (lớp 10, 11) và 3 môn (lớp 12) trong các môn: Lịch sử, Địa lý, Ngữ văn 2, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Tin học, Công nghệ, Toán 2, Khoa học Tự nhiên, Khoa học Xã hội. Nếu chọn môn Khoa học Tự nhiên thì không chọn các môn: Vật lý, Hoá học, Sinh học; nếu chọn môn Khoa học Xã hội thì không chọn các môn: Lịch sử, Địa lý. Các môn Khoa học Tự nhiên và Khoa học Xã hội chỉ học ở lớp 10 và lớp 11.

    + Tự chọn trong môn học (TC3) gồm: Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể thao, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (lớp 10, 11, 12); Chuyên đề học tập (lớp 11, 12).

     Trong cả cấp học trung học phổ thông, học sinh có thể thay đổi môn học tự chọn và chuyên đề học tập tự chọn phù hợp với định hướng nghề nghiệp cá nhân nhưng bắt buộc phải hoàn thành số lượng các môn học, chuyên đề học tập tối thiểu theo quy định trong chương trình giáo dục. Chương trình dành một thời lượng nhất định để tạo điều kiện cho học sinh có thể thực hiện sự thay đổi này.

    c) Việc tổ chức dạy học tự chọn dựa trên nhu cầu của học sinh và trong khả năng đáp ứng về điều kiện dạy học (giáo viên, phòng học, thời gian…) của nhà trường. Nhà trường có thể mời giáo viên thỉnh giảng, gửi học sinh sang học ở trường lân cận, linh hoạt bố trí nhóm/lớp học sinh …để tăng khả năng đáp ứng nhu cầu học tự chọn cho học sinh. Do đó, việc này có thể khác nhau giữa các trường, các địa phương; đối với từng trường thì năm sau có thể khác năm trước vì nhà trường càng phát triển thì càng tăng khả năng đáp ứng nhu cầu học tự chọn cho học sinh.

    2. Thời lượng giáo dục

    a) Một năm học có 35 tuần thực học (gồm 32 tuần học các nội dung quy định chung cả nước và 3 tuần dành cho nội dung giáo dục của địa phương).

    b) Thời lượng ghi trong bảng trên là số tiết trung bình thực học của 1 tuần quy định chung cả nước.

    - Cấp tiểu học: Mỗi ngày học 2 buổi, buổi sáng học không quá 4 tiết và buổi chiều học không quá 3 tiết. Mỗi tuần học không quá 32 tiết, mỗi tiết học trung bình 35 phút, giữa các tiết học có thời gian nghỉ.

    - Cấp trung học cơ sở: Mỗi ngày học 1 buổi không quá 5 tiết học. Mỗi tuần học không quá 28 tiết, mỗi tiết học 45 phút, giữa các tiết học có thời gian nghỉ.

    - Cấp trung học phổ thông: Mỗi ngày học 1 buổi không quá 5 tiết. Mỗi tuần học không quá 28 tiết, mỗi tiết học 45 phút, giữa các tiết học có thời gian nghỉ.

    c) Nội dung các môn học bắt buộc và các nội dung TC2, TC3 được bố trí thời lượng giáo dục bắt buộc đối với tất cả học sinh trong kế hoạch giáo dục. Nội dung TC1 không bố trí thời lượng giáo dục bắt buộc đối với tất cả học sinh trong kế hoạch giáo dục.

    VII. ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC VÀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KHÁC

    Chương trình môn học giai đoạn giáo dục cơ bản bảo đảm trang bị cho học sinh tri thức phổ thông nền tảng, toàn diện và thực sự cần thiết. Kết thúc giai đoạn này, học sinh có khả năng tự học, đạt được những phẩm chất và năng lực thiết yếu, nhất là các năng lực chung, thấy rõ sở trường, năng lực của mình để tự tin tham gia cuộc sống lao động hoặc tiếp tục học lên.
    Ở cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở thực hiện lồng ghép những nội dung liên quan với nhau của một số lĩnh vực giáo dục, một số môn học trong chương trình hiện hành để tạo thành môn học tích hợp; thực hiện tinh giản, tránh chồng chéo nội dung giáo dục, giảm hợp lý số môn học.

    Chú trọng tính thiết thực của các nội dung dạy học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo, cùng với hoạt động tư vấn trường học để giúp học sinh học xong trung học cơ sở có thể chọn con đường học lên theo giáo dục nghề nghiệp hoặc trung học phổ thông, góp phần thực hiện yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở.

    Ở cấp trung học phổ thông, chương trình giáo dục bảo đảm phân hoá mạnh: Học sinh học một số (4) môn bắt buộc, đồng thời được tự chọn các môn học (từ lớp 10) và chuyên đề học tập (từ lớp 11), trong đó có những chuyên đề riêng về hướng nghiệp. Kết thúc giai đoạn này, học sinh có kiến thức, kỹ năng phổ thông cơ bản được định hướng theo lĩnh vực nghề nghiệp, phù hợp với năng khiếu và sở thích, phát triển tiềm năng cá nhân để chuẩn bị tốt cho giai đoạn giáo dục sau phổ thông hoặc bước vào cuộc sống lao động.

    Hệ thống môn học giúp cho việc hình thành, phát triển các năng lực chung của học sinh. Vai trò của mỗi môn học đối với việc hình thành, phát triển năng lực chung của học sinh được trình bày tại phụ lục 3 kèm theo chương trình tổng thể.

    1. Môn học cốt lõi thuộc lĩnh vực giáo dục Ngôn ngữ và văn học

    Lĩnh vực giáo dục Ngôn ngữ và văn học giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực giao tiếp, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực thẩm mỹ, năng lực cảm thụ văn học và những phẩm chất tốt đẹp, những quan niệm sống và phép ứng xử nhân văn; giúp học sinh nhận biết được ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng và phương tiện tư duy của con người, là công cụ để học tốt tất cả các môn học; văn học là loại hình nghệ thuật ngôn từ phản ánh đời sống, xã hội và con người; từ đó có ý thức trau dồi ngôn ngữ, nuôi dưỡng hứng thú đọc sách và khám phá tác phẩm văn học.

    Giáo dục ngôn ngữ và văn học giúp học sinh sử dụng ngôn ngữ tự nhiên như tiếng Việt, ngoại ngữ, tiếng dân tộc, và những phương tiện giao tiếp khác như hệ thống các hình ảnh, biểu tượng, ký hiệu, công thức, sơ đồ, đồ thị, bảng biểu, động tác cơ thể,... trong những lĩnh vực giáo dục khác nhau.

    Giáo dục ngôn ngữ được thực hiện ở tất cả các môn học, trong đó Tiếng Việt/Ngữ văn, Ngoại ngữ và Tiếng dân tộc có vai trò chủ đạo. Giáo dục văn học được thực hiện chủ yếu ở môn học Tiếng Việt/Ngữ văn.

    a) Tiếng Việt/Ngữ văn

    Tiếng Việt/Ngữ văn là môn học bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12. Nội dung cốt lõi bao gồm các mạch kiến thức và kỹ năng cơ bản, thiết yếu về tiếng Việt và văn học; phù hợp với lứa tuổi và các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh ở từng cấp học.

    - Giai đoạn giáo dục cơ bản: Môn học có tên là Tiếng Việt ở cấp tiểu học và Ngữ văn ở cấp trung học cơ sở. Kết thúc giai đoạn giáo dục cơ bản, học sinh có thể sử dụng tiếng Việt thành thạo để giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống hàng ngày và học tập tốt các môn học khác; có thể đọc, viết, nói và nghe các dạng văn bản phổ biến và thiết yếu; đồng thời qua môn học, học sinh được bồi dưỡng và phát triển về tâm hồn và nhân cách. Chương trình được thiết kế theo các mạch nội dung chính: đọc, viết, nói và nghe. Kiến thức tiếng Việt và văn học được tích hợp trong quá trình dạy học đọc, viết, nói và nghe thông qua các văn bản văn học và văn bản thông tin. Các văn bản ngữ liệu được lựa chọn và sắp xếp phù hợp với trình độ tiếp nhận của học sinh ở mỗi cấp học.

               - Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp: Học sinh được phát triển và nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt trong các hoạt động học tập và thực tiễn đời sống; đồng thời được tiếp cận với một số nội dung học tập có liên quan đến định hướng nghề nghiệp, đáp ứng sở thích và nhu cầu học tập của người học. Môn học được tổ chức thành hai phần: Bắt buộc và tự chọn. Phần bắt buộc có tên là Ngữ văn 1, tiếp nối các mạch nội dung đã học từ giai đoạn giáo dục cơ bản, nhưng chú ý nhiều hơn đến tính chất công cụ của môn học. Phần tự chọn có tên là Ngữ văn 2 (TC2), gồm các phân môn Văn học, Luyện đọc và Luyện viết. Văn học giúp học sinh có cơ hội đọc nhiều và đọc sâu hơn các tác phẩm văn học theo loại thể, giai đoạn văn học hay phong cách sáng tác, được học có hệ thống hơn một số nội dung văn học sử và lý luận văn học có tác dụng thiết thực đối với việc đọc và viết về văn học. Luyện đọc chủ yếu rèn luyện năng lực đọc hiểu cho học sinh thông qua các loại văn bản văn học và văn bản thông tin khác nhau. Sau khi đọc, học sinh cũng có cơ hội viết về những gì đã đọc. Luyện viết giúp học sinh phát triển năng lực tạo lập các loại văn bản khác nhau, chủ yếu là văn bản thông tin. Ngoài ra, học sinh cũng có cơ hội nói và trình bày về những gì đã viết. Ngoài Ngữ văn 1 và Ngữ văn 2, đến lớp 11 và 12, có thêm hệ thống các chuyên đề học tập Ngữ văn (TC3). Đó là những nội dung chuyên sâu về tiếng Việt, văn học, văn hoá, gắn với định hướng nghề nghiệp và ngành học mà học sinh có thể học ở bậc cao hơn, đáp ứng sở thích và nhu cầu của những học sinh muốn đi sâu vào từng lĩnh vực, chuyên ngành hẹp của môn học.

    Phương pháp dạy học dựa trên nguyên tắc chủ đạo là học thông qua hoạt động; khuyến khích và tạo cho học sinh cơ hội được đọc, viết, nói và nghe; từ các tình huống giao tiếp cụ thể, thiết thực, giúp các em phát triển các năng lực và phẩm chất có liên quan.

    Đánh giá kết quả học tập phải căn cứ vào yêu cầu cần đạt của môn học đối với từng lớp học, cấp học; tập trung đánh giá năng lực đọc, viết, nói, nghe, qua đó đánh giá năng lực tư duy; khuyến khích những suy nghĩ độc lập, sáng tạo, hạn chế kiểm tra khả năng ghi nhớ máy móc.

    b) Ngoại ngữ 1, Ngoại ngữ 2

    Ngoại ngữ 1 là môn học bắt buộc từ lớp 3 đến lớp 12;  Ngoại ngữ  2 là môn học TC1, có thể bắt đầu và kết thúc học ở bất kỳ lớp nào trong các lớp từ 3 đến 12 tuỳ theo nhu cầu của học sinh và khả năng đáp ứng của nhà trường.

    Nội dung được thiết kế nhằm phát triển cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết theo các mức khác nhau dựa theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (tham chiếu khung năng lực ngoại ngữ của châu Âu); chương trình được xây dựng liền mạch từ giai đoạn giáo dục cơ bản lên đến hết lớp 12. Kết quả học tập được xác nhận thông qua đánh giá cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.

    c) Tiếng dân tộc

    Tiếng dân tộc là môn học TC1, có thể bắt đầu và kết thúc học ở bất kỳ lớp nào trong giai đoạn từ lớp 3 đến lớp 9.

    2. Môn học cốt lõi thuộc lĩnh vực giáo dục Toán học

    Lĩnh vực giáo dục toán học có ưu thế hình thành và phát triển cho học sinh năng lực tính toán, năng lực tư duy toán học, năng lực giải quyết các vấn đề toán học, năng lực mô hình hoá toán học, năng lực giao tiếp toán học (nói, viết và biểu diễn toán học), năng lực sử dụng các công cụ, phương tiện học toán (đặc biệt là công cụ công nghệ thông tin và truyền thông); giúp học sinh nhận biết toán học như là một phương tiện mô tả và nghiên cứu thế giới hiện thực, là công cụ thực hành ứng dụng trong học tập các môn học khác.

    Giáo dục toán học được thực hiện ở nhiều môn học như Toán, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Công nghệ, Tin học,... trong đó môn Toán là môn học cốt lõi.

    - Giai đoạn giáo dục cơ bản:

    Môn Toán là môn học bắt buộc ở tiểu học và trung học cơ sở (từ lớp 1 đến lớp 9), giúp học sinh nắm được một cách có hệ thống các khái niệm, nguyên lý, quy tắc toán học cần thiết nhất cho tất cả mọi người, làm nền tảng cho việc học tập tiếp theo ở các trình độ học tập hoặc có thể sử dụng trong cuộc sống hàng ngày. Cấu trúc chương trình môn Toán ở tiểu học và trung học cơ sở dựa trên sự phối hợp cả cấu trúc tuyến tính với cấu trúc “xoáy trôn ốc" (đồng tâm, mở rộng và nâng cao dần), xoay quanh và tích hợp ba mạch kiến thức: Số và Đại số; Hình học và Đo lường; Thống kê và Xác suất.

    - Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp:

    Môn Toán tiếp tục giúp học sinh phát triển các năng lực Toán đã được định hình ở giai đoạn giáo dục cơ bản; đồng thời được tiếp cận với các ngành nghề có liên quan đến môn học, đáp ứng sở thích và các nhu cầu học tập của người học. Chương trình môn Toán từ lớp 10 đến lớp 12 bao gồm: Môn Toán 1 là bắt buộc đối với tất cả học sinh; môn Toán 2 là môn học tự chọn dành cho học sinh.

    Môn Toán 1 được phát triển trên cơ sở nội dung nền tảng đã trang bị cho học si


    Nhắn tin cho tác giả
    Đặng Ngọc Trình @ 09:18 17/09/2015
    Số lượt xem: 140
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Chào mừng quý vị đến với website của trường THCS Bích Hòa

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Nhiệt liệt chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11